Tin KHCN trong nước
Tạo động lực đẩy nhanh thương mại hóa kết quả nghiên cứu (03/11/2022)
-   +   A-   A+   In  
Theo ông Phạm Đức Nghiệm, Phó Cục trưởng Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, cần tập trung xây dựng và triển khai đề án thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa, đưa nhanh kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ được tạo ra từ ngân sách Nhà nước vào sản xuất, kinh doanh.

Thí điểm chính sách mới

Theo Bộ trưởng Bộ KH&CN Huỳnh Thành Đạt, việc phát triển thị trường khoa học và công nghệ (KH&CN) là một trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Bộ trưởng đặt vấn đề, để doanh nghiệp Việt Nam có chỗ đứng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, KH&CN và đổi mới sáng tạo phải làm gì và đáp ứng các yêu cầu như thế nào? Nhà nước cần điều chỉnh và ban hành các chính sách vĩ mô liên quan nào trong thời gian tới?

Trên cơ sở đó, Bộ trưởng nhấn mạnh để thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập cần phải thực hiện các giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Đồng thời, phát triển thị trường KH&CN phải lấy nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ làm nền tảng, nhà khoa học là động lực và doanh nghiệp là trung tâm.

Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt cho rằng, phát triển thị trường KH&CN phải lấy nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ làm nền tảng. Ảnh: VGP

Theo báo cáo của Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN (Bộ KH&CN) thời gian qua, thị trường (KH&CN) nước ta đã có bước phát triển và đạt được một số kết quả đáng ghi nhận như nguồn cung hàng hoá đã tăng đáng kể, tốc độ tăng giá trị giao dịch bình quân hằng năm đạt 22%.

Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tế, thị trường KH&CN còn trầm lắng, vận hành còn nhiều rào cản, vướng mắc. Hầu hết các viện, trường gặp rất nhiều khó khăn trong việc quản lý và khai thác kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ của đơn vị. Doanh thu mang lại được từ hoạt động khai thác tài sản trí tuệ còn thấp, giá trị hợp đồng mang lại được từ chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm chỉ chiếm tỉ lệ khoảng 30% so với tổng ngân sách dành cho KH&CN.

Về hợp tác viện, trường và doanh nghiệp chủ yếu được thực hiện trong lĩnh vực đào tạo, cung cấp nhân lực và tư vấn chuyển giao công nghệ. Thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (spin–off) tại các trường đại học, viện nghiên cứu chưa có quy định hướng dẫn cụ thể.

Việc chưa có hướng dẫn chi tiết, hợp lý sử dụng quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp là điểm nghẽn lớn trong việc khuyến khích doanh nghiệp tham gia thị trường KH&CN nói chung và hoạt động thương mại hoá công nghệ, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ mới, tiên tiến.

Do đó, theo ông Phạm Đức Nghiệm, Phó Cục trưởng Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN, cần tập trung xây dựng và triển khai đề án thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hoá, đưa nhanh kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ được tạo ra từ ngân sách Nhà nước vào sản xuất, kinh doanh theo hướng: Giao quyền sở hữu, quyền sử dụng và trách nhiệm thương mại hoá kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ cho tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN; toàn bộ lợi nhuận thu được từ thương mại hoá được phân chia hợp lý giữa tổ chức chủ trì và các nhà khoa học/tác giả kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ; viên chức các đơn vị sự nghiệp được phép góp vốn bằng kết quả nghiên cứu/tài sản trí tuệ và tham gia điều hành doanh nghiệp khởi nguồn.

Ngoài ra, doanh nghiệp được quyền sử dụng kinh phí từ Quỹ Phát triển KH&CN của doanh nghiệp theo thông lệ thương mại; tăng mức phân bổ ngân sách Nhà nước dành cho nhiệm vụ thương mại hoá kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ, coi đó là khoản tài trợ (không hoàn lại) cho tổ chức/cá nhân chủ trì, không phân biệt công lập hay ngoài công lập; tạo cơ chế đột phá cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp trong các viện nghiên cứu, trường đại học.

Từ góc độ viện – trường, PGS.TS Vũ Văn Tích, Trưởng Ban KH&CN, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đề xuất cơ chế thí điểm cho ĐHQGHN. PGS.TS Vũ Văn Tích mong muốn ĐHQGHN được thí điểm cơ chế đầu tư tài chính KH&CN theo 4 bước từ nghiên cứu cơ bản đến triển khai, sản xuất thử nghiệm và thương mại hóa hướng tới tự chủ hoạt động KH&CN của một số đơn vị thuộc ĐHQGHN; hình thành doanh nghiệp khởi nguồn; phát triển mô hình thí điểm về tổ chức trung gian hỗ trợ chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát triển mô hình tổ chức hoạt động KH&CN và hoạt động đào tạo phát triển nhân lực KH&CN chất lượng cao trên cơ sở phối hợp với doanh nghiệp…

Theo PGS. Donald Scott Kemiss, chuyên gia về chính sách thương mại hoá kết quả nghiên cứu của chương trình Aus4innovation, thương mại hoá kết quả nghiên cứu, sáng chế là con đường mà nhiều quốc gia mong muốn. Một số nước như Mỹ, Trung Quốc, Australia... rất chú trọng vào các chương trình thương mại hoá. Tuy nhiên, số lượng sáng chế tăng, chất lượng ứng dụng lại chưa tương xứng. "Hầu hết các doanh nghiệp tìm hiểu công nghệ qua mạng và mối quan hệ, nhưng giao dịch các mặt hàng khoa học công nghệ không giống sắm một đôi giày", PGS. Kemiss nói.

Theo ông, "doanh nghiệp và nhà nghiên cứu cần phải hiểu nhau". Tức là, các trường đại học cần tiếp cận được khả năng thương mại hoá, nắm được nhu cầu của doanh nghiệp, tìm hiểu họ có cần các sáng chế đó hay không và sử dụng kết quả như thế nào. Doanh nghiệp cũng cần đánh giá công nghệ khả thi, đầu tư vào bằng sáng chế có tiềm năng nhất và giá trị đem lại là gì.

Ông cho biết một số quốc gia đã xây dựng các chính sách "khuyến công nghệ" nhằm tạo cơ hội trao đổi, tìm hiểu giữa các doanh nghiệp, viện trường và các đơn vị chuyển giao thông qua tổ chức trung gian làm cầu nối thông tin. Hoạt động này giúp doanh nghiệp phân tích rõ nhu cầu và khả năng thương mại, trong khi việc tạo nên cung cầu đồng bộ kết hợp sở hữu trí tuệ cho phép trường đại học giữ được lợi nhuận, tạo không gian nghiên cứu, phát triển.

Từ quá trình nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Australia, Trung Quốc, PGS. Donald Scott Kemmis đưa ra một số khuyến nghị như: Cho phép các trường đại học có toàn quyền sở hữu các tài sản trí thức được tạo ra bởi nghiên cứu do Nhà nước tài trợ, quản lý một cách thích hợp việc thương mại hóa các tài sản đó và giữ lại doanh thu từ việc thương mại hóa; nhìn nhận lại cách các trường đại học ở Việt Nam có thể bổ sung tốt nhất cho các chương trình của Chính phủ nhằm phát triển năng lực quản lý và công nghệ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ; lồng ghép sự phát triển hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp vào các chương trình nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị và các lĩnh vực công nghiệp chủ chốt…

Nhiều chuyên gia đề xuất cần có cơ chế, chính sách thúc đẩy thương mại hoá kết quả nghiên cứu khoa học. Ảnh minh hoạ

Trao tự chủ cho các đơn vị nghiên cứu

GS. Trần Đức Viên, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dẫn số liệu ở Việt Nam chỉ 4% trường đại học hợp tác nghiên cứu với các doanh nghiệp, 29% có hợp tác đào tạo, giảng dạy, đa số giải quyết vấn đề trước mắt của doanh nghiệp. "Rất ít doanh nghiệp liên kết trực tiếp với viện, trường đại học trong xác định chiến lược dài hạn", ông nói. Trong khi đó thị trường hình thành cần dựa trên các "mặt hàng".

Ông chia sẻ kinh nghiệm từ Phòng thí nghiệm sinh học phân tử Cambridge (Anh), nơi có tới 6 nhà khoa học đoạt giải Nobel, với bí quyết thành công là tự do nghiên cứu, phi hành chính hoá, quản lý tài chính hiệu quả và quốc tế hoá lao động. Viện nghiên cứu thành lập nhiều công ty spin-off, nhờ đó 5 năm vừa qua giúp thu về 700 triệu bảng Anh từ các chuyển giao, đặt hàng tới các doanh nghiệp. "Trong khi tiền chính phủ Anh cấp khoảng 170 triệu bảng Anh, tức là số tiền thương mại hoá được gấp 4-5 lần tiền chính phủ cấp", ông nói. Việc đầu tiên cần hướng tới là thể chế, tự do học thuật, sáng taọ.

GS. Viên đề xuất giao quyền tự chủ thực chất cho các đơn vị nghiên cứu, trong đó cần độc lập tự chủ mô hình quản trị phương thức hoạt động, nhân sự và tự chủ tài chính, đầu tư. "Nếu dựa trên 3 trụ cột gồm thể chế, đầu tư, giao quyền sẽ giúp khoa học công nghệ trở thành động lực, đóng góp cho sự phát triển kinh tế nước nhà", ông nói.

TS. Hoàng Xuân Hiệp, Hiệp hội Dệt may Việt Nam chia sẻ câu chuyện thực tế về thị trường từ chính doanh nghiệp của mình. Ông cho biết một năm công ty xuất khẩu 5,6 tỷ USD mặt hàng sợi nhưng phải nhập gần 3 tỷ USD sợi nguyên liệu để làm được. Bài toán doanh nghiệp cần chính là công nghệ xử lý nhằm giảm chi phí việc nhập khẩu. "Thực tế, doanh nghiệp biết 'cầu' nhưng chưa biết cách đưa lên đâu để giải quyết vấn đề đó", TS. Hiệp nói.

Ông đề xuất chính sách như hỗ trợ doanh nghiệp tham gia nghiên cứu sẽ được giảm thuế, lãi suất hay tiếp cận giải pháp công nghệ nhằm thúc đẩy cầu phía doanh nghiệp đưa nghiên cứu vào ứng dụng.

GS. Trần Đức Viên cũng cho rằng nên thí điểm khoán sản phẩm cuối cùng, đặt hàng giao nhiệm vụ theo tiềm lực thế mạnh đơn vị, nhóm tác giả và giảm thủ tục hành chính để hỗ trợ các nhà khoa học. Theo ông cần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các trường, dựa trên chỉ số kết quả đầu ra, xây dựng xếp hạng đánh giá các trường đại học, trong đó có các nghiên cứu doanh nghiệp có thể ứng dụng.

 

Nguồn: vietQ.vn